Năm 1920, họ đạo Gia Cốc thuộc về Giáo xứ Từ Xá do Cha già Cố Thanh đảm nhiệm. Lúc này những suy nghĩ về việc xây dựng một ngôi thánh đường của người Gia Cốc bắt đầu. Rồi một thay đổi nữa: Cha già Cố Nhất về quản nhiệm Giáo xứ Từ Xá thay cho Cha già Cố Thanh, và tiếp tục đặc trách họ lẻ Gia Cốc. Đây cũng là lúc những tư tưởng xây dựng thánh đường đã chín muồi. Cha đã cùng các vị trùm trưởng bàn thảo và quyết định xây dựng một ngôi thánh đường để các tín hữu có nơi phụng thờ.

Chung sức xây nhà Chúa

Mọi người đồng tâm nhất trí. Mọi sự chuẩn bị bắt đầu. Sức lao động được tận dụng, trí tuệ được phát huy, mọi người thi nhau dâng cúng tài chánh. Vật tư được mua từ xa về: gạch, cát, đá, những phiến gỗ lim nặng nề từ Thanh Hóa được đóng bè thả trôi sông. Tất cả vật tư lại được chuyển từ bờ sông qua cánh đồng về làng bằng những dụng cụ thô sơ. Bằng sức người, bằng trí tuệ, bằng quyết tâm xây dựng và được sự động viên của Cha già Cố Nhất, các cụ trùm cùng tất cả mọi người hăng say lao động:

  • Cụ trùm Giuse Vũ Văn Đanh
  • Cụ trùm Giuse Trần Văn Long
  • Cụ trùm Giuse Bùi Văn Tín

Công việc miệt mài gian khó kéo dài hơn 3 năm trời, nhưng tinh thần và lòng nhiệt thành luôn dâng cao vời vợi. Tất cả đã được đền đáp xứng đáng.

Ngày 04-12-1936, giờ Hoàng đạo đã điểm, ngôi thánh đường uy nghiêm đã hoàn thành trong niềm vui hân hoan của cộng đoàn đức tin và của cả bà con không cùng niềm tin ở các làng lân cận.

Ngôi thánh đường năm xưa

Ngôi thánh đường dài 25m, rộng 12m, cao 8m. Cuối thánh đường là ngọn tháp cao hơn chục mét như một pháo đài (bởi vậy người Pháp đã chiếm đỉnh tháp và đặt trên đó một khẩu súng cối 60 ly để bắn phá các nơi). Điều đó cho thấy sức chịu lực, sự kiên cố, vững chắc của ngọn tháp; cũng có nghĩa là cha ông chúng ta đã xây dựng ngôi thánh đường chắc chắn và hoành tráng.

Trên tháp có một quả chuông Tây đường kính 90cm. "Quả chuông đã được Đức Cha Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, làm phép và cụ trưởng Hòa được danh dự đỡ đầu." Từ ngọn tháp, sáng tối vang lên những hồi chuông như tiếng thiên thần mời gọi các tín hữu. Những tiếng kinh cầu của cộng đoàn từ nhà thờ vang ra, và mãi mãi vang xa…

Ngoài ra còn một khu nhà phòng – nơi giáo dân tập trung cầu nguyện và cử hành Thánh lễ mỗi khi có Cha về làm phúc trước khi xây dựng thánh đường. Sau này nhà phòng được sửa chữa thành nhà xứ.

Những vị mục tử coi sóc họ đạo

Năm 1936, giáo họ Gia Cốc trực thuộc Giáo xứ Phương Quan, dưới sự quản nhiệm của Cha già Án và hai Cha thừa sai người Tây Ban Nha là Cha Cố Du và Cha Cố Tế. Các ngài thay nhau sang Gia Cốc giúp việc cấm phòng hằng năm và ban các bí tích. Mỗi lần có Cha đến như vậy thường được gọi là "Cha về làm phúc", cả họ đạo rộn ràng hẳn lên.

Năm 1949, do tình hình chính trị phức tạp, Cha Thất về thay Cha già Cố Du. Cha Thất về ở tại giáo họ Gia Cốc. Từ đây họ lẻ Gia Cốc gần như thành một giáo xứ.

Năm 1951, Cha Học về thay Cha Thất, nhưng Cha Học sống với cộng đoàn chưa đầy 6 tháng thì Tòa Giám mục lại bổ nhiệm Cha Đaminh Phạm Khắc Hiếu – đang coi xứ Xuân Hòa, huyện Tiên Lãng – về nhận xứ Gia Cốc với số giáo dân khoảng 500 người.

Trong thời kỳ Cha Đaminh Hiếu, Gia Cốc – một làng quê nhỏ bé, hẻo lánh – đã có máy nổ phát điện để chiếu sáng ngôi thánh đường trong các giờ phụng vụ và chiếu sáng cho cả làng, trong khi ánh sáng điện lúc đó chỉ có ở các khu trung tâm tỉnh. Cùng thời gian này, hội hát đã có đàn phong cầm; chiếc đàn này còn được lưu giữ tới ngày nay (theo chú thích ảnh trong Kỷ yếu: được lưu giữ bởi Ông Giuse Bùi Huy Giáo). Đây cũng là niềm vinh dự cho Gia Cốc lúc bấy giờ.

Ngày nay, ngôi thánh đường và nghĩa trang Gia Cốc miền Bắc vẫn còn đó, như chứng tích của một thời cha ông vun đắp đức tin.

Nguồn: Kỷ yếu Giáo xứ Gia Cốc 100 năm (1909–2009).